Phương Pháp Tính Lịch Âm Dương
Âm lịch trên Lịch Chuẩn được tính bằng thuật toán thiên văn theo đúng quy tắc dựng lịch Việt Nam, lấy múi giờ UTC+7 (kinh tuyến 105 độ Đông) làm chuẩn - vì thế tên trang là "Lịch Chuẩn".
Ba quy tắc dựng lịch âm Việt Nam
- Quy tắc 1 - Ngày Sóc: mùng 1 của mỗi tháng âm lịch là ngày chứa thời điểm Sóc - lúc Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất gần thẳng hàng (gọi là hội hợp, không thấy trăng trên bầu trời). Đây là ranh giới dựng tháng.
- Quy tắc 2 - Tháng 11 chứa Đông Chí: tháng âm lịch chứa tiết Đông Chí (khoảng 21/12 hằng năm) được định danh là tháng 11, làm mốc neo cả bảng tháng của năm âm lịch.
- Quy tắc 3 - Tháng nhuận: tháng nào không chứa trung khí (một trong 12 tiết khí chính giữa các tháng) là tháng nhuận của năm đó; nếu nhiều tháng cùng không có trung khí thì lấy tháng đầu tiên sau Đông Chí.
Hai mốc thiên văn quan trọng nhất - Sóc và trung khí - đều được tính bằng thuật toán thiên văn (dựa trên quỹ đạo Mặt Trăng và Mặt Trời), sau đó quy đổi về ngày lịch theo múi giờ Việt Nam.
Múi giờ UTC+7 - kinh tuyến 105 độ Đông
Toàn bộ thời điểm thiên văn được quy đổi về múi giờ UTC+7 trước khi rơi vào ngày lịch - đây là điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa lịch Việt Nam và lịch các nước Á Đông khác:
- Việt Nam dùng múi giờ UTC+7 theo Quyết định 134/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ - tương ứng kinh tuyến 105 độ Đông.
- Trung Quốc, Đài Loan dùng UTC+8 (kinh tuyến 120 độ Đông); Hàn Quốc, Nhật Bản còn lệch xa hơn.
- Khi thời điểm Sóc hoặc trung khí rơi vào khung giờ đêm gần giao thoa ngày (khoảng 23:00 - 01:00), cùng một thời điểm thiên văn có thể về hai ngày khác nhau ở hai múi giờ - dẫn đến lệch ngày, lệch tháng, thậm chí khác tháng nhuận giữa hai nước.
Những ngày lịch Việt Nam khác Trung Quốc (đã kiểm chứng)
Các mốc sau là sai lệch thực tế giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc, được đối chiếu với lịch phẩm Việt Nam:
Nếu bạn thấy hai trang lịch âm cho kết quả khác nhau ở những ngày trên, trang tính theo múi giờ Việt Nam (UTC+7) mới đúng với lịch dùng tại Việt Nam.
Ngoài âm lịch: giờ hoàng đạo, trực, nên làm - nên tránh
Các mục Giờ hoàng đạo, Trực, Ngày thần, Nên làm - Nên tránh trên từng trang ngày được suy ra từ hệ thống thông thư truyền thống: chu kỳ 12 Ngày thần (Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ...) quay theo ngày can chi, chu kỳ 12 Trực (Kiến, Trừ, Mãn, Bình...) quay theo địa chi tháng và ngày. Đây là dữ liệu dân gian kế thừa lâu đời trong các cuốn thông thư (thông thư Bàn Trạch, Vạn Niên Lịch các đời), được chuẩn hóa sang thuật ngữ thông dụng trong lịch Việt Nam hiện đại.
Nên làm - nên tránh mang tính tham khảo theo truyền thống dân gian; với các quyết định quan trọng, bạn nên cân nhắc tổng thể hoàn cảnh thực tế.
Phạm vi và quy trình kiểm chứng
- Phạm vi tính toán: năm 1900 - 2100. Đây là khoảng thời gian thuật toán tiết khí có sai số được kiểm soát và đối chiếu được với lịch phẩm đã xuất bản.
- Hồi quy tự động: mọi thay đổi thuật toán phải vượt qua bộ kiểm thử gồm các mốc Tết 1900 - 2100, các ngày giao thoa lịch Việt - Trung, tháng nhuận và cấu trúc năm (353/354/355 và 383/384/385 ngày) trước khi cập nhật.
- Đối chiếu độc lập: kết quả được đối chiếu với lịch in và các lịch phẩm uy tín của Việt Nam qua nhiều năm phát hành.
Nguồn tham chiếu
- Quyết định 134/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng múi giờ UTC+7 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Trần Tiến Bình,《Lịch Việt Nam thế kỷ XX - XXI》, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
- Hoàng Xuân Hãn,《Lịch và Lịch Việt Nam》- công trình nền tảng về quy tắc dựng lịch âm Việt Nam theo kinh tuyến 105 độ Đông.
- Thuật toán lịch thiên văn mã nguồn mở lunar-php - nền tảng tính Sóc và tiết khí, được hiệu chỉnh toàn diện về múi giờ Việt Nam cho dự án này.
Câu hỏi thường gặp về phương pháp tính
Vì sao lịch âm Việt Nam đôi khi khác lịch Trung Quốc?
Hai lịch cùng dựa trên Sóc và trung khí nhưng tính theo hai múi giờ khác nhau: Việt Nam dùng UTC+7 (kinh tuyến 105 độ Đông), Trung Quốc dùng UTC+8 (kinh tuyến 120 độ Đông). Khi thời điểm Sóc hoặc trung khí rơi gần nửa đêm, hai bên có thể lệch nhau 1 ngày, kéo theo lệch cả tháng (như Tết 1985) hoặc khác tháng nhuận (như năm 1987).
Lịch âm được tính như thế nào?
Ba quy tắc chính: ngày mùng 1 của tháng âm là ngày chứa thời điểm Sóc; tháng chứa Đông Chí là tháng 11 âm lịch; tháng không chứa trung khí là tháng nhuận. Toàn bộ thời điểm thiên văn được quy đổi về múi giờ UTC+7 trước khi dựng lịch.
Phạm vi tra cứu lịch trên Lịch Chuẩn là bao nhiêu?
Từ năm 1900 đến 2100. Đây là phạm vi dữ liệu tiết khí được tính bằng thuật toán thiên văn có độ chính xác xác minh được với các lịch phẩm đã xuất bản của Việt Nam.